Tầm soát bệnh lý mạch vành bằng phương pháp đo điểm vôi hóa (Calcium Score) đang trở thành tiêu chuẩn trong dự phòng biến cố tim mạch. Với sự hỗ trợ của hệ thống CT Scan 256 dãy giải pháp tầm soát không xâm lấn, giúp xác định mảng xơ vữa ngay từ giai đoạn khởi phát, các mức độ vôi hóa và ngăn ngừa biến chứng tim mạch nguy hiểm một cách nhanh chóng, an toàn.

Tổng quan về bệnh mạch vành

Bệnh mạch vành là một trong những bệnh lý phổ biến và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bệnh động mạch vành đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và ngày càng trẻ hóa. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu và chủ động phòng ngừa là hết sức cần thiết để bảo vệ sức khỏe tim mạch.

Tại sao cần tầm soát bệnh mạch vành sớm?

Bệnh mạch vành có thể diễn biến tiềm tàng trong nhiều năm. Đa số trường hợp mạch vành chỉ bộc phát triệu chứng khi lòng mạch đã hẹp trên 70%. Tầm soát giúp phát hiện bệnh ngay từ khi mảng xơ vữa mới hình thành. Nhiều khi bệnh mạch vành chỉ được biết đến khi đã xuất hiện biến chứng, bị nhồi máu cơ tim. Do đó, việc tầm soát bệnh là quan trọng, ngay cả khi chưa có triệu chứng nào của bệnh, vì điều này giúp xác định các yếu tố nguy cơ ở giai đoạn sớm, nhờ vậy, có thể phòng ngừa bệnh bằng cách kiểm soát các yếu tố nguy cơ như: Thay đổi lối sống, điều trị thuốc hoặc kết hợp cả hai biện pháp, ngoại trừ yếu tố di truyền, tuổi và giới.

Nên tầm soát bệnh mạch vành khi nào?

Mặc dù bệnh mạch vành xảy ra ở lứa tuổi trên 40, tuy nhiên người trẻ vẫn có thể mắc bệnh. Gần đây nhiều nghiên cứu cho thấy lứa tuổi mắc bệnh mạch vành ngày càng trẻ hóa. Chính vì vậy, nếu nghĩ rằng mình còn quá trẻ để mắc bệnh mạch vành là một sai lầm. Theo Hội Tim mạch Mỹ (American Heart Association - AHA), mọi xét nghiệm tầm soát bệnh mạch vành nên bắt đầu từ lúc 20 tuổi. Mức độ kiểm tra thường xuyên phụ thuộc vào mức độ nguy cơ của người bệnh.

Tầm soát bệnh mạch vành tại bệnh viện 199

Cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành

Cơ chế bệnh sinh

Bệnh động mạch vành không xảy ra tức thì mà là một quá trình tàn phá âm thầm:

- Giai đoạn hình thành: Lớp nội mạc (lớp lót trong cùng) của mạch máu bị tổn thương do áp lực máu cao hoặc độc tố. Tại đây, các mảng xơ vữa (cấu tạo từ cholesterol, chất béo và canxi) bắt đầu bám vào thành mạch.
- Giai đoạn tiến triển: Theo thời gian, mảng xơ vữa lớn dần làm hẹp lòng mạch, cản trở dòng máu nuôi tim, gây ra các cơn đau thắt ngực, hụt hơi khi gắng sức.
- Giai đoạn biến chứng: Nếu mảng xơ vữa bị nứt vỡ, cơ thể sẽ hình thành cục máu đông ngay tại đó gây tắc nghẽn hoàn toàn. Đây chính là thủ phạm gây nhồi máu cơ tim, dẫn đến suy tim, rối loạn nhịp hoặc tử vong đột ngột.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành

Hội tim mạch Hoa Kỳ nêu ra 10 yếu tố nguy cơ:

  1. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ lên 2-4 lần
  2. Mỡ máu cao
  3. Đái tháo đường
  4. Tăng huyết áp
  5. Ít vận động
  6. Béo phì
  7. Stress
  8. Rượu
  9. Chế độ ăn và dinh dưỡng
  10. Độ tuổi

Các kỹ thuật tầm soát động mạch vành

  1. Chụp CLVT bằng máy CT 256 dãy
  2. Siêu âm
  3. Xét nghiệm
  4. Đo vận tốc sóng mạch

Trong những năm gần đây, CT - Scan đã trở thành một phương tiện chẩn đoán hình ảnh quan trọng và quen thuộc trong bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh lý mạch vành, với thế hệ máy CT trên 128 dãy cho hình ảnh chất lượng cao, giảm liều bức xạ ion hóa trên 50% so với các máy CT 64 dãy và là tiêu chuẩn vàng để khảo sát các bệnh lý mạch vành. Hiện nay Bệnh viện 199 đã triển khai sử dụng máy CTScan 256 dãy trong tầm soát bệnh lý tim mạch.
Máy CT 256 dãy tầm soát bệnh mạch vành
Kỹ thuật Chụp cắt lớp vi tính khảo sát mức độ vôi hóa (Calcium Score) động mạch vành bằng máy CT 256 dãy Philips:
Đánh giá điểm vôi hóa động mạch vành là một trong những kỹ thuật được sử dụng để tầm soát bệnh mạch vành, dễ dàng thực hiện, không cần tiêm thuốc cản quang, không phụ thuộc vào khả năng gắng sức của bệnh nhân. Thời gian khảo sát nhanh, không xâm lấn, cho kết quả chính xác.

Các mức độ vôi hoá mạch vành 

Kết quả đo độ vôi hoá được thể hiện bằng điểm vôi hoá mạch vành(Coronary Calcium score).Điểm vôi hoá được chia làm 4 mức độ:
- 0 điểm: Không mảng vôi hoá.
- 1-99 điểm:Vôi hoá nhẹ(nguy cơ thấp,tỷ lệ tử vong hoặc nhồi máu cơ tim hàng năm <1%).
- 100-399 điểm:Vôi hoá trung bình(nguy cơ trung bình,tỷ lệ tử vong hoặc nhồi máu cơ tim hàng năm 1-3%).
- ≥400 điểm:Vôi hoá nặng(nguy cơ cao,tỷ lệ tử vong hoặc nhồi máu cơ tim hàng năm >3%). Mức độ nặng còn tuỳ thuộc vào vị trí vôi hoá nằm ở động mạch vành nào (thân chung đông mạch vành trái, đoạn gần của các động mạch vành nguy hiểm hơn đoạn giữa và đoạn xa), cách phân bố, số lượng…các đốm vôi hoá nhỏ lại thường đi đôi với các mảng xơ vữa hỗn hợp,gây hẹp lòng mạch đáng kể, và có thể nguy hiểm hơn mảng vôi hoá lớn.
Điểm vôi hoá mạch vành sẽ hỗ trợ cho các bác sĩ xác định nguy cơ và quyết định phòng ngừa tiên phát bệnh động mạch vành cho những bệnh nhân này. Điểm vôi hoá mạch vành cũng được sử dụng cho tiên đoán bệnh động mạch vành tắc nghẽn trên bệnh nhân có triệu chứng đau ngực.

Kết luận

Kết quả điểm vôi hoá mạch vành gợi ý về tình trạng xơ vữa động mạch vành,không cung cấp được các thông tin về mức độ hẹp lòng lòng động mạch vành do xơ vữa cũng như các ảnh hưởng về mặt chức năng của hẹp động mạch vành. Tuy nhiên, với những ưu điểm dễ thực hiện, không cần tiêm thuốc cản quang, không phụ thuộc vào các thuốc đang dùng cũng như khả năng giắng sức của bệnh nhân, các bác sĩ có thể chỉ định cho khảo sát vôi hoá mạch vành khi các test đánh giá chức năng hoặc giải phẩu mạch vành xâm nhập không thực hiện được, hoặc kết quả không kết luận được để lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân.