Thiếu máu thiếu sắt là một trong những loại thiếu máu phổ biến nhất trên toàn cầu, gây ra do sự thiếu hụt sắt – một yếu tố cần thiết để tạo hồng cầu và duy trì chức năng tế bào. Các yếu tố nguy cơ bao gồm thiếu sắt từ chế độ ăn, mất máu mãn tính (do bệnh tiêu hóa hoặc kinh nguyệt kéo dài), và tình trạng viêm mãn tính cản trở hấp thu sắt Theo WHO, thiếu máu do thiếu sắt chiếm khoảng 50% các trường hợp thiếu máu trên toàn cầu, với tỷ lệ cao ở các nước đang phát triển. Bổ sung sắt qua đường uống là phương pháp thông dụng, tuy nhiên nhiều bệnh nhân không dung nạp hoặc có nhu cầu bổ sung sắt nhanh chóng, trong đó sắt đường tĩnh mạch (IV) như sắt sucrose đóng vai trò quan trọng
1. Vai trò của sắt sucrose trong điều trị thiếu máu thiếu sắt
Sắt đường tĩnh mạch có thể cung cấp nhanh lượng sắt cần thiết, hỗ trợ tăng nhanh chỉ số hemoglobin (Hb) và khắc phục các triệu chứng của thiếu máu. Theo các nghiên cứu của Ganz và cộng sự (2019) truyền sắt tĩnh mạch đặc biệt hiệu quả với các bệnh nhân bị thiếu máu do bệnh viêm mãn tính, bệnh thận mãn, hoặc sau phẫu thuật. Dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng truyền sắt tĩnh mạch có khả năng cải thiện nhanh chóng tình trạng mệt mỏi và chức năng thể chất của bệnh nhân hơn so với sắt uống, và đồng thời giảm nhu cầu truyền máu ở các bệnh nhân thiếu máu nặng. Sucrose sắt có thời gian bán hủy ngắn (khoảng 6 giờ) và tỷ lệ phản ứng phụ thấp hơn so với các hỗn hợp sắt IV khác như sắt dextran hoặc sắt carboxymaltose. Nghiên cứu của Weiss và cộng sự (2019) đã chỉ ra tỷ lệ phản ứng dị ứng và quá mẫn cảm của sắt sucrose thấp, giúp nó trở thành lựa chọn an toàn trong điều trị thiếu máu thiếu sắt ở bệnh nhân có tiền sử dụng dịch ứng hoặc cần truyền sắt nhiều lần.2. Hướng dẫn truyền sắt đường tĩnh mạch từ hiệp hội ASH
Các hướng dẫn từ ASH và EHA nhấn mạnh việc sử dụng sắt đường tĩnh mạch trong điều trị thiếu máu thiếu sắt ở những bệnh nhân có chỉ số ferritin huyết thanh thấp (<30 ng/mL) hoặc độ bão hòa transferrin <20%. Những bệnh nhân không thể hấp thu sắt qua đường tiêu hóa, hoặc không đáp ứng với sắt uống cũng nên được cân nhắc truyền sắt tĩnh mạch. Việc sử dụng sắt IV giúp giảm nhu cầu truyền máu và hạn chế các rủi ro liên quan. Điều này đã được chứng minh trong một phân tích tổng hợp năm 2013 về các thử nghiệm chỉ định ngẫu nhiên bệnh nhân dùng sắt IV so với sắt uống hoặc không dùng sắt. Việc sử dụng sắt IV có liên quan đến tần suất truyền máu thấp hơn.Trong một số bệnh lý mục tiêu ferritin là khác nhau tuy nhiên trong hướng dẫn đồng thuận năm 2024, ở hầu hết bệnh nhân, ferritin mục tiêu sau khi bổ sung sắt phải đạt ít nhất 50 ng/mL. Việc sử dụng sắt IV có liên quan đến tần suất truyền máu thấp hơn.
Theo ASH, sắt sucrose là lựa chọn đầu tay cho bệnh nhân không dung nạp sắt đường hoặc cần cải thiện lượng sắt nhanh chóng do tình trạng thiếu máu nặng. Nghiên cứu của Macdougall (2020) đã chứng minh rằng sắt sucrose cải thiện nhanh chóng nồng độ hemoglobin ở bệnh nhân thiếu máu vừa và nặng.
Bảng 6. Khuyến cáo dự phòng trước tiêm cho sắt sucrose
|
Phân loại |
Hàm lượng |
Liều dùng |
Liều thử |
Dự phòng trước tiêm |
|
Sắt sucrose (IS) |
20mg/ mL |
Nhiều liều từ 100 đến 300 mg. Không khuyến cáo dùng liều lớn hơn (tức là liều trên 300 mg) do tỷ lệ phản ứng cao hơn. Sản phẩm này không thể tiêm bắp. |
Không bắt buộc, nhưng được khuyến khích nếu bệnh nhân có tiền sử dị ứng nhiều loại thuốc. |
- Không cần dự phòng trước tiêm cho bệnh nhân không có tiền sử hen hay dị ứng với nhiều loại thuốc. - Đối với bệnh nhân bị hen suyễn hoặc dị ứng nhiều loại thuốc, khuyến cáo dùng methylprednisolone và thuốc chẹn thụ thể histamine 2 (H2) famotidine, 20 mg tiêm tĩnh mạch trước khi truyền sắt. - Đối với những bệnh nhân bị viêm khớp, khuyến cáo dùng methylprednisolone 125 mg tiêm tĩnh mạch và kê đơn một liệu trình ngắn prednisone (uống 1 mg/kg mỗi ngày trong bốn ngày). - Tiêm tĩnh mạch chậm Khuyến cáo nên dùng liều thử (1,25 mL tương đường 25 mg] bằng cách tiêm tĩnh mạch chậm) nếu bệnh nhân có tiền sử dị ứng thuốc ban đầu để quan sát phản ứng tiêm truyền của bệnh nhân; nếu không, không cần dùng liều thử. -Khuyến cáo không dùng diphenhydramine làm thuốc dự phòng trước khi truyền sắt. |
3. Một số phản ứng bất lợi khi truyền Sắt
Bảng 9. Khyến cáo về quản lý các phản ứng bất lợi khi truyền sắt sucrose
|
Mức độ nghiêm trọng |
Phương pháp quản lý ban đầu |
Triệu chứng cải thiện sau điều trị ban đầu |
Triệu chứng tiến triển |
|
Nhẹ: Ngứa, đỏ bừng, cảm giác nóng, hơi tức ngực, tăng huyết áp, đau lưng/khớp |
Ngừng truyền sắt trong vòng ≥15 phút. Thông báo cho bác sĩ. Theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, độ bão hòa O2. Theo dõi. Tránh sử dụng thuốc kháng histamin. |
• Tiêm tĩnh mạch glucocorticoid (ví dụ, hydrocortisone 200 mg hoặc Methylprednisolone 40mg tiêm tĩnh mạch) |
Xử lý như đối với phản ứng trung bình/nặng |
|
• Nếu các triệu chứng tái phát sau khi cải thiện • Ngừng truyền sắt • Sử dụng phương pháp quản lý ban đầu • Ghi nhận và báo cáo ADR |
• Nếu bệnh nhân vẫn khỏe mạnh sau khi cải thiện • Quan sát trong một giờ sau khi truyền xong Ghi nhận và báo cáo ADR |
||
|
Trung bình: Như trong phản ứng nhẹ cộng với nổi mề đay, phù nề, ho, tức ngực, khó thở, buồn nôn, nôn, nhịp tim nhanh hoặc hạ huyết áp hoặc Nặng: Thở khò khè/thở rít, tím tái, mất ý thức, ngừng tim/hô hấp |
Ngừng ngay truyền sắt. Theo dõi liên tục: mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO₂ và ECG nếu có. Gọi bác sĩ/đội hồi sức khi phản ứng nặng. Tư thế: nằm ngửa, nâng chân; thai phụ nằm nghiêng trái. Epinephrine (adrenaline) IM ngay: 0,3–0,5 mg (1 mg/mL; 1:1000), tiêm mặt trước-bên đùi. Oxy: 8–10 L/phút qua mặt nạ. Nếu hạ huyết áp: thiết lập đường truyền IV và hồi sức bằng dịch đẳng trương 1–2 L. Phản vệ nặng: cân nhắc glucocorticoid IV (hydrocortisone 200 mg hoặc methylprednisolone 40 mg). |
• Quan sát trong một giờ sau khi truyền xong • Ghi nhận và báo cáo ADR Xem xét chiến lược điều trị trong tương lai |
·Triệu tập đội hồi sức, bắt đầu ACLS. · Lặp lại epinephrine IM 0,3–0,5 mg sau 5 phút nếu chưa đáp ứng với liều đầu và hồi sức dịch; thường cần 1–3 liều. · Hạ huyết áp: đặt 2 đường truyền IV lớn, tiếp tục hồi sức dịch. Chuyển nhanh đến ICU để theo dõi và điều trị tích cực. |
4. Kết luận
Sắt sucrose là một trong những lựa chọn tối ưu trong điều trị thiếu máu do thiếu sắt, đặc biệt ở các bệnh nhân không dung nạp sắt đường uống hoặc cần bổ sung sắt nhanh chóng. Nghiên cứu và khuyến cáo từ ASH, sắt sucrose không chỉ an toàn mà còn mang lại hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng thiếu máu ở nhiều nhóm bệnh nhân khác nhau. Việc sử dụng sắt sucrose cần phải có quy trình quản lý chất lượng nghiêm ngặt về lượng và theo dõi để đảm bảo an toàn và hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y Tế, Quyết định số 1832 /QĐ-BYT về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý huyết học”. 2022.
2. World Health Organization (2021), "Anaemia. Retrieved", pp.
3. Macdougall I. C., Comin-Colet J., et al. (2020), "Iron Sucrose: A Wealth of Experience in Treating Iron Deficiency", Adv Ther, 37(5), pp. 1960-2002.
4. Ganz T., Nemeth E. (2015), "Iron homeostasis in host defence and inflammation", Nat Rev Immunol, 15(8), pp. 500-10.
Người tổng hợp: DS Vũ Tú Anh – Tổ Dược lâm sàng –
Khoa Dược – Bệnh viện 199
<./div>
<./div>



