Năm 1962, Sir John Charnley đã mở ra một trang mới quan trọng trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình : Thay khớp háng toàn phần. Đây là một trong những phẩu thuật giúp đạt kết quả tuyệt vời

Năm 1962, Sir John Charnley đã mở ra một trang mới quan trọng trong lĩnh vực chấn thương chỉnh hình : Thay khớp háng toàn phần. Đây là một trong những phẩu thuật giúp đạt kết quả tuyệt vời nhất của ngành ngoại khoa giúp cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân có bệnh lý khớp háng trong thập kỷ qua. Thay khớp không những giúp người bệnh thoát khỏi sự đau đớn do các bệnh lý khớp háng mang lại mà còn phục hồi lại được gần như bình thường chức năng của khớp háng tránh được nhiều hạn chế của các phương pháp điều trị khác trước đây.

Phẩu thuật thay khớp háng hiện nay đã trở thành một phẩu thuật thường quy của các trung tâm chấn thương chỉnh hình ở Việt Nam và trên thế giới.

Bài viết dưới đây giúp bạn hiểu rõ hơn về kỹ thuật, chỉ định, quá trình chăm sóc, tập luyện trước và sau mổ thay khớp háng. 

1.    Khớp háng là gì?

Khớp háng là một trong những khớp lớn nhất của cơ thể, gồm có khối cầu và ổ chảo. Ổ chảo được tạo thành bởi ổ cối, là một phần của xương chậu lớn. Khối cầu là chỏm xương đùi, đầu trên của xương đùi (xương ống).

Các bề mặt xương của khối cầu và ổ chảo được bao phủ bởi sụn khớp, là lớp mô trơn làm đệm lót cho các đầu xương để giúp chúng cử động dễ dàng.

Bao quanh khớp háng là lớp mô mỏng gọi là màng hoạt dịch. Ở khớp háng khỏe mạnh, lớp màng này tiết ra một lượng dịch nhỏ giúp bôi trơn sụn khớp và giảm thiểu gần như toàn bộ sự ma sát trong cử động khớp háng.

Các dải mô gọi là dây chằng (bao khớp hông) nối khối cầu vào ổ chảo và tạo sự vững chắc cho khớp.

2.    Vì sao một số người cần thay khớp háng?


Đau khớp háng do hoại tử chỏm xương đùi

Một số bệnh lý hoặc chấn thương gây ra tổn thương cho các bộ phận của khớp háng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của khớp. Phẫu thuật thay khớp háng bao gồm việc thay thế các phần bị hư hỏng của khớp bằng vật liệu nhân tạo.


Thoái hóa khớp háng

Một số bệnh lý dưới đây có thể làm tổn thương khớp:
•    Các bệnh lý viêm khớp háng không đáp ứng với các phương pháp điều trị nội khoa khác.
•    Thoái hoá khớp háng giai đoạn 3 trở lên.
•    U xương.
•    Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi.
•    Chấn thương gãy xương cổ xương đùi ở người lớn tuổi.

Trong đó các bệnh lý phổ biến nhất khiến một người cần phẫu thuật thay khớp háng là thoái hóa khớp, hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi và chấn thương gãy cổ xương đùi.

3.    Các phương pháp thay khớp háng

Tùy mức độ, tính chất tổn thương mà người ta chia ra 2 phương pháp chính là thay khớp háng bán phần và toàn phần. Thay khớp háng bán phần là chỉ thay phần cổ chỏm xương đùi bằng vật liệu nhân tạo cò thay khớp háng toàn phần thì bao gồm cả phần cổ chỏm xương đùi và ổ cối khung chậu.

Ngoài ra người ta còn dựa vào các đường mổ vào khớp háng (trước, sau, đường mổ nhỏ, supper path…), các loại vật liệu khớp nhân tạo (kim loại, nhựa, gốm, sứ,…), hình dạng các khớp (chuôi ngắn, chuôi dài,…), khớp có ximang hay không ximang, thay khớp háng lần đầu hay lần sau…..

4.    Cần chuẩn bị những gì trước khi thực hiện phẫu thuật thay khớp háng?

Thay khớp háng là một phẫu thuật phổ biến được thực hiện để điều trị khớp bị tổn thương nghiêm trọng. Đây là phẫu thuật liên quan tới dụng cụ cấy ghép nhân tạo.

a.    Nguy cơ cuộc mổ

Phẫu thuật thay khớp háng thường làm giảm đau và tăng khả năng vận động. Tuy nhiên, phẫu thuật thay khớp háng có một số rủi ro liên quan. Bao gồm các:

•    Nhiễm trùng: có thể xảy ra trên bề mặt vết thương hoặc sâu bên dưới quanh bộ phận cấy ghép. Tình trạng này có thể xảy ra trong thời gian nằm viện hoặc sau khi về nhà. Thậm chí có thể xảy ra nhiều năm sau đó.

•    Chảy máu.

•    Cục máu đông ở tĩnh mạch chân hoặc xương chậu là biến chứng thường gặp nhất của phẫu thuật thay khớp háng. Nguy cơ này có thể đe dọa đến tính mạng khi chúng di chuyển đến phổi gây thuyên tắc phổi. Bác sĩ sẽ lập kế hoạch phòng ngừa trong đó có thể bao gồm thuốc làm loãng máu, vớ hỗ trợ, vớ bơm hơi áp lực dùng cho chân, bài tập gập-duỗi cổ chân, và sớm vận động.

•    Trật khớp háng nhân tạo.

•    Tổn thương thần kinh.

•    Vật liệu cấy ghép lỏng lẻo và bào mòn.

Tuy nhiên với sự phát triển của phương tiện, kỹ thuật mổ cùng sự hỗ trợ của trang thiết bị và thuốc như hiện nay thì những biến chứng trên là rất ít và hiếm khi xảy ra. 

b.     Chuẩn bị cuộc mổ

Trước khi thực hiện cuộc mổ, người bệnh sẽ được thăm khám và thực hiện các xét nghiệm. Đối với một số người bệnh có bệnh lý mạn tính sẽ cần thêm nhiều xét nghiệm hơn người khác như đánh giá chức năng tim thông qua siêu âm tim, X quang ngực thẳng hay đo điện tâm đồ…

Người bệnh cũng cần cung cấp toàn bộ tiền sử bệnh lý cũng như các loại thuốc đã và đang sử dụng. Một số trường hợp, trước phẫu thuật, người bệnh sẽ được thực hiện các bài tập tăng cường sức cơ hay giảm cân, bỏ thuốc lá.

5.    Cuộc mổ được diễn ra như thế nào?

Trước khi mổ bạn sẽ được bác sĩ gây mê khám và đưa ra phương pháp giảm đau tối ưu cho bạn,  sử dụng kết hợp các kỹ thuật gây mê, bao gồm gây mê toàn thân, gây tê tủy sống hoặc tê ngoài màng cứng, hay gây tê cục bộ. sau đó bạn sẽ không còn cảm giác đau trong suốt quá trình bác sĩ phẫu thuật.

Cuộc phẫu thuật bắt đầu với một vết rạch da vùng háng, tách các cơ để tiếp cận khớp háng. Sau đó, phẫu thuật viên sẽ loại bỏ phần khớp hư hỏng và cố định dụng cụ nhân tạo vào xương đùi và ổ cối xương chậu. Sau đó, họ sẽ đóng vết rạch da bằng kim bấmhoặc chỉ khâu. Cuối cùng, vết mổ sẽ được che bằng một miếng băng vô trùng.

6.    Hậu phẫu và phục hồi sau mổ

Sau khi phẫu thuật thay khớp háng, thông thường, người bệnh sẽ được bổ sung dịch truyền tĩnh mạch và một số thuốc để hỗ trợ quá trình hồi phục. 

Thời gian phục hồi sẽ khác nhau ở mỗi người. Người bệnh sẽ được dùng thuốc giảm đau và tập VLTL – PHCN ngay ngày đầu sau mổ. 

Khi xuất viện, người bệnh sẽ nhận được đơn thuốc, bao gồm thuốc giảm đau và thuốc phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.

Phục hồi tại nhà thường bao gồm thực hiện các bài tập để tăng cường sức mạnh cho khớp háng và cải thiện khả năng vận động.

 Những bài tập này có thể bao gồm các hoạt động đơn giản xung quanh nhà, chẳng hạn như học cách đi bộ hoặc leo cầu thang. 

Chuyên gia vật lý trị liệu cũng có thể đến hướng dẫn và hỗ trợ tập luyện đến khi người bệnh cảm thấy an toàn và thoải mái khi tự tập. Người bệnh có thể tham khảo thực hiện một số thay đổi đối với môi trường trong nhà, chẳng hạn như lắp đặt tay vịn trong vòi hoa sen hoặc sử dụng bệ ngồi toilet cao.

Hầu hết người bệnh được yêu cầu sử dụng khung tập đi, nạng hoặc gậy chống sau khi phẫu thuật. 

Tuy nhiên, nhiều người có thể tự đi lại từ 2-3 tuần sau khi phẫu thuật và hầu hết sẽ hồi phục hoàn toàn sau 3-4 tháng. 

Thực hiện vật lý trị liệu và thực hiện các bài tập tại nhà là rất quan trọng sau khi phẫu thuật thay khớp háng. 

Mọi người nên thực hiện theo đúng chỉ định của bác sĩ để đạt được kết quả tốt nhất có thể sau khi phẫu thuật.

7.    Khi nào cần liên hệ bác sĩ

Những người đã thay khớp háng nên đi khám nếu gặp bất kỳ tình huống nào sau đây:
•    Đau khớp háng tăng dần;
•    Sưng hoặc đau bắp chân;
•    Sốt trên 38ºC hoặc ớn lạnh;
•    Chảy dịch từ vết mổ.

TÓM LẠI
Phẫu thuật thay khớp háng là một phẫu thuật rất phổ biến, đặc biệt là ở người lớn tuổi, người bệnh bị thoái hóa khớp háng nặng. Chấn thương gãy xương vùng mấu chuyển và cổ xương đùi,phẫu thuật loại bỏ cơn đau của người bệnh và cải thiện khả năng vận động cũng như chất lượng cuộc sống của họ. 

Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình thường sẽ đề nghị thay khớp háng sau khi thử các phương pháp điều trị khác, bao gồm thuốc uống, tiêm khớp và vật lý trị liệu phục hồi chức năng không kết quả.

Cần có thời gian để hồi phục hoàn toàn sau khi thay khớp háng và hầu hết mọi người sẽ yêu cầu vật lý trị liệu phục hồi chức năng để giúp khôi phục khả năng đi lại bình thường, khả năng vận động và sức mạnh của khớp.

Dưới đây là hình ảnh một số ca lâm sang đã thay khớp háng tại khoa CTCH – YHTT bệnh viện 199. 

Bệnh nhân nữ 69 tuổi tiền sử THA đã mổ thay khớp háng phải 18 năm, khớp háng trái 7 năm. Nhập viện với chân đoán Đau lỏng khớp háng phải nhân tạo bên phải. BN đã được phẫu thuật thay lại khớp háng phải toàn phần, và sau 1 ngày bênh nhân ngồi dậy tự sinh hoạt được.