Chất bột đường, carbohydrate, carb, trong thức ăn gồm đường ngọt (sugary carbohydrate) và đường bột (starchy carbohydrate).

1. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LÀ GÌ?

Chất bột đường, carbohydrate, carb, trong thức ăn gồm đường ngọt (sugary carbohydrate) và đường bột (starchy carbohydrate).

Sau khi ăn vào, chất bột đường sẽ được tiêu hóa tạo ra nhiều phân tử đường glucose. Glucose sẽ lưu hành trong máu đến mọi cơ quan, tế bào của cơ thể để sử dụng tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động của cơ thể.

Sơ đồ bộ phận (hình minh họa).

Các tế bào β (beta) của tụy tạng (lá mía) có khả năng sinh tổng hợp rồi chế tiết vào máu hóc-môn insulin. Insulin sẽ kiểm soát tương đối ổn định nồng độ đường glucose trong máu.

Trong điều kiện bình thường, nồng độ glucose máu và nồng độ insulin luôn luôn tỷ lệ thuận với nhau: glucose máu tăng thì insulin cũng tăng theo và ngược lại glucose máu giảm thì insulin cũng giảm.

Khi cơ thể bị thiếu hụt insulin, sự điều hòa glucose máu không còn, nồng độ glucose máu tăng lên cao và con người bị bệnh đái tháo đường.

Sự thiếu hụt insulin có thể xẩy ra do 2 nhóm nguyên nhân: (1) tế bào bê-ta tuyến tụy bị hư hỏng không chế tiết insulin được (bệnh đái tháo đường thể 1 hay đái tháo đường lệ thuộc insulin ), và (2) tế bào bê-ta bị suy yếu tiết không đủ insulin cần thiết (bệnh đái tháo đường thể 2 hay đái tháo đường không lệ thuộc insulin).

Tóm lại “đái tháo đường, còn có các tên gọi khác là đái đường, tiểu đường là một tình trạng tăng đường máu bệnh lý do thiếu hóc môn insulin hoặc do insulin hoạt động không hiệu quả vì bị tình trạng kháng insulin gây ra”.

2. CÁC THỂ (TÝP) ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:

Chuyên ngành nội tiết phân ra 4 thể đái tháo đường chính:

(1). ĐTĐ thể 1: Tế bào bê ta bị hư hỏng không còn tiết được insulin. Vì ĐTĐ thể 1 chỉ có cách điều trị duy nhất là chích insulin nên trước đây còn gọi là ĐTĐ lệ thuộc insulin (IDDM)

(2). ĐTĐ thể 2: Tế bào bê ta suy kiệt không tiết đủ insulin. ĐTĐ thể 2 có thể dùng thuốc uống, chưa cần chích insulin nên trước đây còn gọi là ĐTĐ không lệ thuộc insulin (NIDDM)

(3). ĐTĐ thể 3: Các thể dạng đặc biệt, trung gian giữa 1 và 2.

(4). ĐTĐ thai nghén: Là những ca ĐTĐ phát hiện trong khi mang thai.

3. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bệnh ĐTĐ sẽ diễn tiến qua các giai đoạn:

Bình thường → Kháng insulin → Tiền ĐTĐ → ĐTĐ thật

Tiêu chí chẩn đoán như sau

* ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (ĐTĐ)

Theo Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM (VADE) để chẩn đoán ĐTĐ chúng ta dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:

(1).HbA1c ≥ 6,5%.

Xét nghiệm phải được làm ở labo sử dụng phương pháp chuẩn.

(2). Đường máu đói Go ≥ 7.0 mmol/ L ( ≥ 126 mg/dL).

Đường máu đói Go đo khi đã nhịn không ăn ít nhất 8 giờ.

(3). Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose G2 ≥ 11,1 mmol/L ( ≥ 200 mg/dL).

Nghiệm pháp dung nạp glucose phải được thực hiện theo đúng mô hình của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, sử dụng 75 gam glucose.

(4). Đường máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/L ( ≥200 mg/dL)

* TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (Tiền ĐTĐ)

(1) HbA1c từ 5,7 đến 6,4 %

(2) Rối loạn glucose lúc đói, RLGMĐ ( impaired fasting glucose, IFG), với Đường máu đói Go từ 5,6 – 6,9 mmol/L (100 – 125 mg/dL) và

(3) Rối loạn dung nạp glucose, RLDNG (impaired glucose tolerance, IGT), Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose G2 đo trong mức từ 7,8 – 11 mmol/L (140 – 199 mg/dL).

* ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI NGHÉN

(1) Glucose đói Go ≥ 5, 1 mmol/L ( 92 mg/dL).

(2) Glucose máu 1 giờ sau OGTT G1 ≥ 10,0 mmol/L (180 mg/dL).

(3) Glucose máu 2 giờ sau OGTT G2 ≥ 8,5 mmol/L (153 mg/dL).

4. CÁC THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

NHÓM 1. Hóc-môn insulin là chính chủ yếu dùng cho đái tháo đường thể 1. Insulin cũng được dùng trong trường hợp cấp cứu, cho ĐTĐ thai nghén và các thể khác trong những tình huống riêng biệt.

NHÓM 2. Các thuốc kích thích tế bào b gia tăng chế tiết insulin: gồm các sulfamid đái tháo đường và các thuốc glinid.

*Sulfonylurea: có nhiều gốc như: Tolbutamide (Dolipol), Chlorpropamide (Diabinese), Carbutamide (Glucidoral), Gliclazide (Clasic SR, Diamicron MR, Predian), Glibenclamide (Daonil, Hemidaonil, Maninil), Glipizide (Glucontrol, Glibinese).

* Glinid hay metaglinid: Repaglinide (Novonorm, Prandin), Metaglinid

NHÓM 3. Thuốc chống kháng insulin (insulin resistance): gồm các biguanid và các thuốc nhóm glitazone.

*Metformine (Diafase, Fordia, Siofor, Glucophage, Glucinan, Stagide...

* Pioglitazone (Actos, Nilgar), Rosiglitazone (Avandia, Avandamet).

NHÓM 4. Thuốc ức chế men tiêu hóa và làm chậm hấp thu đường glucose từ hệ thống tiêu hóa: các µ glucosidase.

Acarbose (Glucor, Glucobay), Miglitol (Diastabol).

NHÓM 5. Thuốc ức chế men dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4); thuốc sẽ làm tăng incretin (GLP-1 và GIP)

Onglyza (saxagliptin) Janumet (sitagliptin/metformin)

NHÓM 6. Thuốc mới chưa sử dụng đại trà

Lưu ý:

Để đạt hiệu quả cao trong điều trị ĐTĐ, thầy thuốc chuyên khoa thường phối hợp thuốc trong điều trị.

* ĐTĐ thể 1 có thể phối hợp insulin (nhóm 1) với thuốc chống kháng insulin (nhóm 3) và thuốc ức chế hấp thu glucose (nhóm 4)

* ĐTĐ thể 2 có thể phối hợp thuốc tăng tiết insulin (nhóm 2 ) với thuốc chống kháng insulin (nhóm 3), thuốc ức chế hấp thu glucose (nhóm 4) và đôi khi kết hợp với insulin nền (nhóm 1).

* Hiện nay các nhà khoa học đang nổ lực nghiên cứu nhiều dạng thuốc đặc biệt như insulin dạng ngậm, uống, dạng hít…cũng như nhiều thuốc mới hiệu quả và dễ sử dụng cho bệnh nhân.

5. CHẾ ĐỘ ĂN BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Người đái tháo đường cũng phải ăn uống để đảm bảo đủ năng lượng cho cơ thể hoạt động, cho nên chế độ ăn đái tháo đường cũng cần phải bảo đảm đủ cả về số lượng lẫn chất lượng như người bình thường, nghĩa là người đái tháo đường cũng cần phải ăn đủ no và cũng có quyền được ăn ngon, ăn hợp khẩu vị miễn là phải theo đúng chế độ riêng của bệnh đái tháo đường. Không cần kiêng khem quá đáng và tuyệt đối không được nhịn hoặc bỏ bữa ăn; luôn luôn nhớ một nguyên tắc bắt buộc trong điều trị đái tháo đường là "có ăn cơm mới được dùng thuốc".

Ô vuông thức ăn. (Hình minh họa)

Bảy quy định cần tuân theo:

1. Thành phần thức ăn nên tuân theo tỷ lệ: 15% chất đạm, 35% chất béo, 50% chất đường bột (starchy carbohydrate).

2. Ngưng (cấm) toàn bộ các thức ăn, thức uống có đường ngọt (sugary carbohydrate) là loại đường hấp thu nhanh vào máu.

3. Cần ăn đủ lượng đường bột (tinh bột) cần thiết để đảm bảo đủ năng lượng. Thức ăn đường bột trong ngày nên chia nhỏ vào 3 bữa ăn; nếu cảm thấy đói giữa 2 bữa ăn chính, có thể dùng thêm 1 bữa ăn nhẹ. Nên thay đổi thức ăn nhóm đường bột bằng cách dùng xen kẽ các loại bột củ rễ, ngũ cốc.

4. Giảm đến mức tối thiểu lượng thức ăn chứa nhiều chất béo như: các loại thịt nguội làm từ thịt heo, thịt mỡ, phó mát, dầu, khoai tây chiên..

5. Nên ăn cá 2-3 lần trong tuần vì cá đạm nhiều nhưng chất béo lại ít.

6. Hạn chế tối đa uống rượu, bia.

7. Ăn thêm các thức ăn có các chất xơ như rau, củ, trái cây không ngọt...

Hai thái độ ăn cần tránh:

1. Quá kiêng kem, quá lo lắng phải nhịn ăn, giảm uống một cách vô lý.

2. Quá "bất cần" coi thường bệnh không tuân theo chế độ ăn qui định.

Trên đây là những nguyên tắc quy định khái quát chung. Thật ra mỗi một bệnh nhân đều cần nghiên cứu để điều chỉnh, sắp đặt một chế độ ăn đúng cho riêng mình để đảm bảo điều trị bệnh thành công.

6. CHẾ ĐỘ VẬN ĐỘNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Mục đích của luyện tập thể lực:

Đái tháo đường đồng nghĩa với dư thừa năng lượng, thừa ăn. Cho nên cần tích cực hoạt động thể lực để giúp cơ thể:

- Tiêu hao năng lượng và giảm cân trọng.

- Giúp cơ thể tiêu thụ đường dễ dàng hơn, do đó làm giảm nồng độ đường trong máu, giúp giảm liều thuốc uống hoặc insulin cần chích.

- Nâng cao sức khỏe của toàn cơ thể. Luyện tập thể lực cũng làm cải thiện tinh thần kinh, hoạt bát, nhanh nhẹn, sảng khoái. Cuối cùng luyện tập thể lực cũng sẽ làm tăng sức đề kháng, khả năng chống đỡ bệnh tật.

- Lao động vừa có thu nhập chính đáng để sinh hoạt và chữa bệnh, đồng thời không bị mặc cảm “thừa”, không có ích cho xã hội.

Nguyên tắc luyện tập thể lực:

- Luyện tập phải dần dần và thích hợp.

- Phải đề phòng hạ đường máu khi tập thể lực.

- Không ráng tập quá sức hoặc tập thể lực khi đang có bệnh cấp tính, khi chưa kiểm soát đường máu ổn định…

Cần lưu ý là mỗi bệnh nhân sẽ có một chế độ tập luyện khác nhau chứ không rập khuôn đồng nhất được. Tập luyện thân thể không nhất thiết phải quá nặng nhọc và quá mất thời gian mà cần duy trì ổn định có thời khóa biểu hợp lý cho công việc và tuổi tác.

Mô hình luyện tập thể lực lý tưởng:

- Giảm xem ti vi, giảm chơi vi tính, nghỉ trưa dưới 30 phút mỗi ngày.

- Hằng ngày cần

+ Đi bộ, đi dạo thời gian và khoảng cách tăng dần.

+ Lên xuống cầu thang vài lần.

+ Trồng cây cảnh, làm vườn.

- Hằng tuần cần vài lần

+ Chạy tại chổ; chạy nhẹ.

+ Đạp xe đạp.

+ Nhảy, đánh bóng bàn, đánh bóng rổ…

7. ĂN CHAY VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Tỉ lệ bệnh đái tháo đường và béo phì đang tăng lên nhanh chóng. Nhận thức được những bệnh này liên quan mật thiết với chế độ ăn uống, một số người chuyển sang ăn chay với hi vọng giảm bệnh hoặc ít ra là hỗ trợ điều trị.

a. Lợi ích

Nguyên từ khái niệm ban đầu, thức ăn chay (ăn trai) tức thực phẩm chỉ toàn thực vật - dạng ăn chay của người theo đạo Phật, tránh sát sinh - ngược với ăn mặn (ăn mạng sống). Nhưng dần dà khi số người ăn chay nhiều lên, thức ăn chay cũng linh hoạt cho phù hợp thực tế với mục đích chính là để thay đổi khẩu vị, bảo vệ sức khỏe hơn là tránh sát sinh.

Thức ăn chay hiện nay rất phong phú, có đến 6 nhóm sau:

(1) chay tuyệt đối hoàn toàn thực vật (vegans),

(2) chay có sữa (lacto-vegetarians),

(3) chay có trứng (ovo-vegetarians)

(4) chay có sữa và trứng (lacto-ovo-vegetarians)

(5) chay có cá (pesco-vegetarians, pescetarians ), và

(6) chay linh hoạt hay chay tương đối (flexitarians, semivegetarians) cho phép ăn thêm thịt, cá...

"Lưu ý ăn chay khác hẳn với ăn kiêng: ăn chay là ăn các thực phẩm gốc thực vật, còn ăn kiêng hay nhịn ăn (dieting, fasting) là giảm ăn uống dưới mức nhu cầu, thậm chí là nhịn ăn".

Theo nguyên lý cơ bản của dinh dưỡng học, khẩu phần ăn hợp lý phải có đầy đủ bốn thành phần là đạm, bột đường, béo, chất khoáng và vitamin. Do đó việc chuyển đổi từ một chế độ ăn bình thường sang ăn chay nói chung là được phép, hợp dinh dưỡng. Thức ăn chay có một số ưu điểm hơn thức ăn nguồn gốc động vật: ít chất béo có hại như cholesterol và các axít béo no (bão hòa), nhiều axít béo chưa no, axít béo nhiều nối đôi, nhiều vitamin E, C, A... giúp cơ thể chống oxy hóa.

Đái tháo đường là căn bệnh rối loạn chuyển hóa chất bột đường với hậu quả là đường glucose trong máu tăng cao, đái tháo đường lại liên quan mật thiết đến bệnh thừa cân, béo phì và tăng huyết áp. Do đó có thể nói ăn chay đúng cách cũng là một chế độ ăn hợp lý, “tuyệt vời” cho người bệnh đái tháo đường, vừa dinh dưỡng vừa hỗ trợ điều trị.

Một công trình khoa học lớn, nghiêm túc năm 2006 ở Hoa Kỳ cho thấy đến 43% bệnh nhân đái tháo đường type 2 khi chuyển sang chế độ ăn chay tuyệt đối đều có giảm lượng thuốc men điều trị và giảm cân. Trong thức ăn chay thực vật nhờ có nhiều chất xơ, chất sợi, nhiều khoáng và vitamin... nên có thêm khả năng giảm các biến chứng của đái tháo đường, đặc biệt biến chứng tim mạch và thận.

Cần ăn chay “đúng cách”:

Ba điều cần lưu ý khi ăn chay:

(1) Một là thức ăn chay chỉ đóng vai trò thực phẩm hỗ trợ hay thực phẩm chức năng, không phải là thuốc nên không thể thay thuốc chữa bệnh.

(2) Hai là khi ăn chay cơ thể có nguy cơ thiếu một số chất vi lượng cần thiết như vitamin B12, (vitamin này có nguồn chính từ động vật), thiếu vitamin D và canxi (rất cần cho trẻ con đang lớn và người già, người loãng xương), thiếu chất sắt và kẽm (các axít phytic, oxalic, tannic... trong thực vật sẽ ngăn cản sự hấp thu sắt). Người ăn chay dễ dàng khắc phục bằng cách dùng nhóm thực phẩm chay có trứng sữa, các thực phẩm chay linh hoạt hoặc bổ sung các vitamin và khoáng chất này.

(3) Ba là nếu chúng ta cứ chú tâm ăn chay tuyệt đối, tránh sát sinh, với thực phẩm hoàn toàn là chất đường bột, cơ thể sẽ không thích ứng được với chế độ ăn “méo mó” này và bệnh đái tháo đường tăng lên. GS.TS Nguyễn Hải Thủy và cộng sự nghiên cứu trên 328 nhà tu hành đạo Phật, những vị này ăn trường chay, loại chay tuyệt đối (vegans) với những thức ăn toàn thực vật như ngũ cốc, đậu phụ, các loại rau, trái cây, nấm... thấy tỉ lệ bệnh đái tháo đường ở các nhà tu hành này cao gấp hai lần người bình thường. Kết quả được giải thích: do chế độ ăn chay không cân đối, toàn thực vật, không kiêng giảm chất đường bột là nguyên nhân gốc rễ gây ra bệnh đái tháo đường.

Ăn chay đúng cách, đúng phương pháp cũng là chế độ ăn tốt, góp phần trong việc ngừa và chữa bệnh dinh dưỡng như: thừa cân, béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp...

Nhưng nếu không lưu ý bổ sung những khiếm khuyết của khẩu phần chay, hoặc máy móc ăn toàn thực vật chắc chắn sẽ có những điều bất lợi cho sức khỏe.

8. THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Theo từ điển mở Wikipedia thì “thuốc là hóa chất dùng để điều trị, chữa lành, ngăn ngừa hoặc để chẩn đoán bệnh, hoặc dùng để nâng cao thể lực và trí lực” . Các sinh chất vốn có trong cơ thể nhưng được đưa thêm từ ngoài vào cũng được gọi là thuốc, ví dụ: các hóc-môn insulin, steroid.., các chiết xuất chất đạm, chiết xuất nhau thai, tổ chức gan…..

Còn theo Foods & Nutrition Encyclopedia thì “ thực phẩm là vật chất cơ thể thu nhận để phát triển, bù đắp (tissue repair), sinh sản, hoạt động và thỏa mãn: đói, hài lòng…” . Như vậy thực phẩm đầu tiên là cung cấp chất dinh dưỡng và sau đó có thêm các chức năng khác như phòng chống bệnh tật, tăng cường sức khỏe nhờ có các vitamin, các chất chống ôxy hóa, các chất xơ.v.v…

Thực phẩm chức năng (functional foods) còn gọi là dinh dưỡng bổ sung (dietary supplement) là thực phẩm có liên quan, hổ trợ cho công việc chữa bệnh, hổ trợ cho thuốc hay dinh dưỡng, nâng cao thể trạng trong khi chữa bệnh, còn bản thân lại không phải là thuốc. Rối rắm xảy ra khi trong thiên nhiên có khá nhiều chất mà ranh giới giữa thực phẩm và dược phẩm không rõ ràng, ví dụ: bia, rượu vang, một số loại nấm, vitamin, khoáng chất…và cả một số thực phẩm chức năng.

Nguồn gốc của thực phẩm chức năng có thể là: (1) các thực phẩm có chứa những yếu tố có lợi với hàm lượng lớn, ví dụ: dầu gan cá có chứa nhiều axít béo omega 3, vitamin A; nhiều thực phẩm có hàm lượng chất xơ cao giúp chống béo phì, chống tăng cholesterol máu; hải sản như rong biển có hàm lượng iode rất cao.v.v….(2) những thực phẩm tuy có ít hoạt chất, nhưng nhờ công nghệ sinh học người ta “chế biến” thành những thực phẩm chức năng đặc biệt được gọi là thực phẩm thuốc (alicaments, medical foods) hay dược phẩm dinh dưỡng (nutraceutics), các loại thực phẩm có bổ sung này đúng là nằm giữa ranh giới thức ăn và thuốc chữa bệnh.

Thực phẩm chức năng chỉ có tác dụng hổ trợ chữa bệnh, nó không thể thay thế cho thuốc !!!

Theo TS.BS Trần Bá Thoại

Ủy viên BCH Hội NỘI TIẾT VIỆT NAM

Phòng Hướng dẫn sức khỏe - Bệnh viện 199

---

BỆNH VIỆN 199

Địa chỉ: 216 Nguyễn Công Trứ - Sơn Trà - Đà Nẵng

Hotline: 1900 98 68 68 (CSKH) ;

Cấp cứu: 0236 3986881

Email: benhvien199.bca@gmail.com

Website: http://benhvien199.vn