Theo một nghiên cứu tại Châu Âu của tác giả Ewald và cộng sự trên 2000 bệnh nhân đái tháođường đã báo cáo rằng có 8 % bệnh nhân đái tháo đường type 3c bị chẩn đoán nhầm là đái tháo đường type 1 hoặc type 2.

Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) có 4 phân nhóm đái tháo đường như sau:

- Đái tháo đường type 1: do phản ứng tự miễn, liên quan đến sự phá hủy tế bào β, thường đưa đến thiếu insulin tuyệt đối.

- Đái tháo đường type 2: do khiếm khuyết tiết insulin tiến triển (rối loạn chức năng tế bào β) trên nền kháng insulin ngoại vi ở những mức độ khác nhau.

- Đái tháo đường thai kỳ: là đái tháo đường được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ và không có bằng chứng đái tháo đường type 1, type 2 trước đó.

Các thể đặc hiệu do các nguyên nhân khác (đái tháo đường type 3) như: Đái tháo đường đơn gen (đái tháo đường sơ sinh và đái tháo đường thể trưởng thành xuất hiện ở người trẻ: Maturity Onset Diabetes of Young -MODY); Đái tháo đường thứ phát sau các bệnh tụy ngoại tiết (đái tháo đường type 3 hay pancreatogenic diabetes); Bệnh đái tháo đường do thuốc hoặc hóa chất; Các rối loạn nội tiết hoặc các hội chứng di truyền khác liên quan đái tháo đường.

1.Tần suất của đái tháo đường type 3c:

Theo một nghiên cứu tại Châu Âu của tác giả Ewald và cộng sự trên 2000 bệnh nhân đái tháođường đã báo cáo rằng có 8 % bệnh nhân đái tháo đường type 3c bị chẩn đoán nhầm là đái tháo đường type 1 hoặc type 2. Có khoảng 4 bệnh nhân đái tháo đường type 3c bị viêm tụy mạn, số còn lại bị xơ nang tụy, haemochromotosis hoặc ung thư tụy. Hút thuốc lá, thời gian mắc bệnh dài, sự hiện diện vôi hóa trong tuyến tụy làm tăng khả năng phát triển bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân viêm tụy mạn. Nhìn chung, người ta cho rằng đái tháo đường type 3c đang bị đánh giá thấp. Với tỷ lệ ngày càng tăng của các bệnh lý vêm tụy mạn, phẩu thuật cắt tụy, tỉ lệ sống cao của bệnh nhân xơ nang tụy trên toàn Thế giới, đái tháo đường type 3c ngày càng có tầm quan trọng.

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán

Chẩn đoán ban đầu dựa vào tiêu chuẩn về đường máu của ADA (như đái tháo đường type , type 2).

Tác giả Ewald và Hardt đã đưa ra hướng dẫn chẩn đoán đái tháo đường type 3c gồm những tiêu chuẩn chính và phụ như sau:

*Tiêu chuẩn chính

- Có suy tụy ngoại tiết (có elatase-1 trong phân, hoặc test chức năng trực tiếp)

- Có bằng chứng hình ảnh bệnh lý tụy (qua siêu âm nội soi, MRI, CT)

- Các từ kháng thể của đái tháo đường type  1: âm tính

*Tiêu chuẩn phụ

• Suy chức năng tế bào B

- Không đề kháng insulin nhiều (đo chỉ số HOMA-IR)

- Giảm incretin (vd: GIP) hoặc giảm tiết polypeptide tụy.

- Nồng độ trong máu của các vitamin tan trong dầu như A, D, K, E thấp.

Chẩn đoán phân biệt với đái tháo đường type 1, type 2 không phải lúc nào cũng đơn giản. Sự phá hủy những tế bào đảo tụy trong viêm tụy khác so với đái tháo đường type 1 vì ngoài mất tế bào B, còn mất cả tế bào c và tế bào PP (tế bào Y hay tế bào F) nên nồng độ insulin, glucagon và polypeptide trong máu đều thấp. Ngoài ra, tình trạng khó tiêu và kém hấp thu chất dinh dưỡng sẽ dẫn đến suy giảm bài tiết incretin và do đó giảm phóng thích insulin từ các tế bào B còn lại. Tuy nồng độ insulin trong máu bệnh nhân đái tháo đường type 3c thấp nhưng có sự gia tăng độ nhạy insulin ở ngoại vi bù trừ. Mặt khác, sự giảm bài tiết các polypeptide lại làm giảm độ nhạy insulin ở gan và tăng sản xuất glucose ở gan liên tục. Chính vì những yếu tố trên mà đái tháo đường liên quan đến bệnh lý tụy có tính chất thất thường, được đặc trưng bởi sự thay đổi đáng kể của nồng độ đường máu từ hạ đường máu sang tăng đường máu rất khó kiểm soát - “brittle diabetes”.
Bảng chẩn đoán phân biệt đái tháo đường type 1, type 2 và type 3c
  

Thông số
 

ĐTĐ type 1

ĐTĐ type 2

ĐTĐ type 3c

Nhiểm ceton acid

Thường gặp

Hiếm gặp

Hiếm gặp

Hạ đường huyết

Thường gặp

Hiếm gặp

Thường gặp

Độ nhạy insulin ở ngoại vi

Bình thường hoặc giảm

Giảm

Bình thường hoặc tăng

Độ nhạy insulin ở gan

Bình thường hoặc giảm

Giảm

Bình thường hoặc giảm

Nồng độ insulin máu

Thấp hoặc không có

Cao hoặc
“Bình thường”

 

“Bình thường” hoặc thấp
 

Nồng độ glucagon

Bình thường hoặc cao

Bình thường hoặc cao

“Bình thường” hoặc thấp

Nồng độ Polypeptide

Bình thường hoặc thấp (giai đoạn muộn)

Bình thường hoặc cao

Thấp hoặc không có

Nồng độ GIP

Bình thường hoặc thấp

Thay đổi

Thấp

Nồng độ GLP-1

Bình thường

Thay đổi

Thay đổi

Tuổi khởi bệnh

Thiếu niên hoặc thanh niên

Người lớn