Người nghe kém là người không có khả năng nghe tốt như người có sức nghe bình thường. Có nhiều mức độ nghe kém khác nhau: Nghe bình thường: có thể nghe được cả lời nói thầm. Nghe kém nhẹ: chỉ nghe được lời nói bình thường khi đứng cách 1m. Nghe kém trung bình: chỉ có thể nghe nói lớn khi đứng cách 1m. Nghe kém nặng: chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai. Nghe kém sâu (rất nặng): không nghe được cả những từ hét sát tai = điếc.
1. THẾ NÀO LÀ NGHE KÉM?
Người nghe kém là người không có khả năng nghe tốt như người có sức nghe bình thường. Có nhiều mức độ nghe kém khác nhau:
Nghe bình thường: có thể nghe được cả lời nói thầm.
Nghe kém nhẹ: chỉ nghe được lời nói bình thường khi đứng cách 1m.
Nghe kém trung bình: chỉ có thể nghe nói lớn khi đứng cách 1m.
Nghe kém nặng: chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai.
Nghe kém sâu (rất nặng): không nghe được cả những từ hét sát tai = điếc.
.jpg)
2. NGHE KÉM Ở MỨC ĐỘ NÀO ĐƯỢC COI LÀ TÀN TẬT?
Người lớn: khi chỉ nghe được tiếng nói lớn hoặc các từ thét lên.
Trẻ em: khó khăn nghe khi giao tiếp bình thường. (vì trẻ em cần nghe tốt để học nói và phát triển ngôn ngữ).
3. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHE ĐỐI VỚI TRẺ EM
- Nghe rất quan trọng trong việc học nói
- Nghe tốt và nói tốt rất quan trọng trong giao tiếp
- Giao tiếp tốt rất quan trọng đối với việc học ở nhà và ở trường
- Học tốt giúp cho trẻ phát triển năng lực một cách toàn diện.
- Phát hiện và can thiệp sớm tình trạng nghe kém của trẻ là rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ. Tuy nhiên việc chẩn đoán ở trẻ em gặp nhiều khó khăn hơn ở người lớn vì không thể dựa vào một phương pháp đo riêng lẽ và chủ quan để đánh giá thính lực của trẻ.
- Đa số trẻ em nghe kém được chẩn đoán muộn vì những lý do sau đây:
+ Gia đình không được trang bị kiến thức về các mốc phát triển ngôn ngữ theo từng lứa tuổi, nên không phát hiện sự chậm phát triển ngôn ngữ kịp thời để đưa bé đi khám.
+ Trẻ thường hiếu động, ít tập trung chi tiết vào các âm thanh xung quanh, có thể thực hiện các mệnh lệnh của người lớn qua giác quan thị giác nên cha mẹ cảm nhận là bé nghe được rõ các câu nói.
+ Việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn vì cần những bác sỹ có kinh nghiệm về thính học, thực hiện nhiều phương pháp đo khác nhau về khách quan lẫn chủ quan, đôi khi phải thực hiện nhiều lần và theo dõi trong 1 thời gian mới có được kết quả chính xác.

Mổ cấy điện cực ốc tai cho trẻ bị điếc nặng tại Bệnh viện 199
4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO SỨC NGHE ĐƠN GIẢN
Theo Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị sử dụng 2 phương pháp để đánh giá sức nghe:
- Sử dụng máy đo thính lực (audiometer)
- Sử dụng giọng nói (voice test)
| Độ nghe kém | Kết quả đo bằng máy | Kết qủa đo bằng giọng nói | Xử trí |
| Bình thường | ≤ 25 dB | Nghe được tiếng nói thầm | |
| Nhẹ | 26-40 dB | Nghe và nhắc lại giọng bình thường cách 1 m. | Có lúc cần máy nghe |
| Trung bình | 41-60 dB | Nghe và nhắc lại giọng lớn cách 1m. | Cần máy nghe thường xuyên |
| Nặng | 61-80 dB | Nghe 1 số từ hét lớn vào tai | Cần máy nghe thường xuyên. Nếu không có phải dạy đọc hình môi và ra dấu |
| Sâu (điếc) | ≥ 81 dB | Không có khả năng nghe và hiểu cả tiếng hét vào tai | Máy nghe có thể giúp phần nào. Phải có huấn luyện phục hồi thêm. Đọc hình môi và ra dấu là chủ yếu. |
5. ĐO THÍNH LỰC ĐỒ
Đọc thính lực đồ nhằm dựa vào xem xét, tính toán trên thính lực đồ để đưa ra các nhận định về:
- Tình trạng thính lực: bình thường hay có suy giảm
- Thể loại nghe kém (nếu có suy giảm sức nghe)
+ Nghe kém truyền âm
+ Nghe kém tiếp nhận
+ Nghe kém hỗn hợp (xu hướng truyền âm hay xu hướng tiếp nhận)
- Mức độ nghe kém (thiếu hụt theo dB ở các tần số)
- Giúp nhận định vị trí tổn thương.


Đo thính lực đồ tại Khoa Tai mũi họng - Bệnh viện 199
6. CÁC LOẠI NGHE KÉM
6.1. Nghe kém tiếp nhận: (hay nghe kém thần kinh) là tình trạng các bộ phận dẫn truyền hoạt động bình thường nhưng tai trong bị tổn thương, dẫn đến âm thanh truyền đến tai không được tiếp nhận và truyền tín hiệu lên não. Ở thể nghe kém này, người bệnh bị giảm thính lực nhiều mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể bị điếc hoàn toàn. Bệnh này thường gặp ở người cao tuổi, những người phải làm việc trong môi trường nhiều tiếng ồn khiến tế bào của ốc tai bị tổn thương.
Ngoài ra, nghe kém tiếp nhận còn xuất hiện do các loại vi khuẩn, virus gây nên hoặc người bệnh lạm dụng một số thuốc gây hại cho thính lực.
6.2. Nghe kém dẫn truyền:
Xảy ra ở vùng tai ngoài hoặc tai giữa cản trở âm thanh đi vào tai trong. Nguyên nhân có thể do ráy tai hoặc dị vật làm tắc ống tai ngoài, bệnh lý viêm nhiễm vùng tai giữa hoặc bất thường về chuỗi xương con.
Tình trạng này có thể tạm thời và thính lực có thể phục hồi sau điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật.
6.3. Nghe kém hỗn hợp mang đặc điểm của cả hai thể trên, bao gồm tổn thương ở tai ngoài, tai giữa và tai trong. Khởi đầu của giảm thính lực thường xuất hiện ù tai, tiếng kêu giống như tiếng dế, còi rít hoặc chuông ngân. Hiện tượng chóng mặt có thể đi kèm với giảm thính lực nhưng không thường xuyên.
BS.CKI DƯƠNG THỊ THU HIỀN - P.TRƯỞNG KHOA TAI MŨI HỌNG - BỆNH VIỆN 199




