Ù tai: Không được chủ quan

Ù tai là tiếng ồn hoặc tiếng kêu không mong muốn trong tai, không phải là một bệnh mà là triệu chứng của một bệnh lý nào đó, từ đơn giản như ráy tai cho đến phức tạp, nguy hiểm như u não, ung thư vòm mũi họng…Ù tai là triệu chứng thường gặp, ảnh hưởng 30% người lớn tuổi (> 55 tuổi). Khoảng 1-5% các trường hợp ù tai gây khó khăn sinh hoạt hàng ngày.

Ù tai là triệu chứng rất phổ biến, nhất là ở người lớn tuổi
Một số nghiên cứu nước ngoài cho thấy tần suất ù tai ở cộng đồng từ 4,4% đến 15,1% (Hoffmann), tỷ lệ này cao hơn ở lứa tuổi trên 50 từ 7,6% đến 20,1%. Sinh lý bệnh và nguyên nhân gây ù tai rất phức tạp và hiếm khi biết được nguyên nhân thật của ù tai. Các bệnh lý ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương như viêm màng não, viêm não và đột quỵ thường đi kèm với ù tai và tăng thính. Chấn thương não thường phối hợp với ù tai, nhiễm siêu vi Herpes trong hội chứng Ramsay - Hunt và các dạng chấn thương thần kinh thính giác do phẫu thuật cũng thường gây ù tai. Ù tai có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu tìm được nguyên nhân gây ù tai, một số trường hợp không tìm được nguyên nhân điều trị chủ yếu là giảm triệu chứng ù tai cải thiện phần nào chất lượng cuộc sống.
Ù tai có thể chia làm 4 loại cơ bản sau
Ù tai cấp: Kéo dài từ vài ngày đến vài tuần, nguyên nhân thường do nhiễm trùng tai, một số loại thuốc, chấn thương đầu cổ, tiếp xúc tiếng ồn lớn kéo dài, ráy tai và bệnh lý huyết áp, tim mạch, bệnh lý biến dưỡng, nhìn chung các bệnh lý này thường xác định được và điều trị khá hiệu quả. Vì vậy ù tai thường được giải quyết tốt.
Ù tai mạn: Kéo dài ≥ 3 tháng, có thể do các nguyên nhân đã được nêu trên, đồng thời thường xảy ra ở bệnh nhân nghe kém. Hầu hết các trường hợp ù tai mạn rất khó điều trị hết hẳn, các phương pháp điều trị hiện nay chỉ có khả năng làm giảm mức âm ù giúp người bệnh thoải mái hơn với một chiến lược kiểm soát ù tai lâu dài phù hợp với từng người bệnh.
Ù tai khách quan: Thầy thuốc và những người chung quanh cũng có thể nghe được âm ù phát ra từ tai người bệnh, nguyên nhân có thể do bất thường mạch máu (rò động- tĩnh mạch bẩm sinh), ống nối động- tĩnh mạch mắc phải, u cuộn cảnh, độ xoáy dòng chảy động mạch cảnh, hẹp động mạch cảnh, còn động mạch bàn đạp hoặc các vòng mạch như vòng mạch động mạch nối trước-dưới (AICA) hoặc động mạch nối saudưới (PICA) chèn ép thần kinh thính giác hoặc rối loạn cơ học như bất thường vòi nhĩ, co thắt các cơ khẩu cái, bệnh khớp thái dương hàm và co thắt cơ bàn đạp.
Tuy nhiên ù tai khách quan rất hiếm gặp, tỉ lệ < 1% trong toàn bộ các trường hợp ù tai. Hầu hết ù tai đều thuộc dạng ù tai chủ quan.
Ù tai chủ quan: Chỉ có người bệnh nghe được âm ù này trong tai, nguyên nhân thường gặp như tiếp xúc tiếng ồn quá lớn và kéo dài như tiếng ồn công nghiệp, tiếng súng, máy nổ hoặc nghe nhạc.

Đánh giá bệnh nhân là một trong những bước quan trọng nhất trong chẩn đoán và điều trị ù tai
Điểm quan trọng là cần xác định và điều trị bệnh lý đang diễn tiến gây ù tai, vì vậy cần thu thập toàn bộ các thông tin có thể biết được. Dựa vào: bệnh sử nghe kém, bệnh lý nội khoa liên quan, bệnh sử tâm sinh lý, thăm khám lâm sàng và các nghiệm pháp đánh giá thần kinh – thính lực.
Một số bệnh lý đôi khi cần làm thêm các đánh giá khác như: siêu âm, chụp mạch máu kinh điển hay chụp mạch máu cộng hưởng từ.
Điều trị theo nguyên nhân
Nhiều nguyên nhân gây ù tai có thể được điều trị bằng phẫu thuật hoặc nội khoa.
Viêm tai giữa: Điều trị nhiễm trùng tai giữa bằng kháng sinh đường uống có thể giải quyết tốt các triệu chứng thính giác.
Dị ứng-Nhiễm trùng xoang: Khi hiện tượng viêm giảm đi, triệu chứng ù tai và những triệu chứng liên quan đến dị ứng hoặc nhiễm trùng xoang thường được giải quyết tốt, ứng dụng trong thủ thuật chích corticoides xuyên nhĩ.
Xơ tai: Sự tích lũy các mảng canxi trên chuỗi xương con, đặc biệt xương bàn đạp hoặc ốc tai có thể gây nghe kém dẫn truyền hoặc nghe kém tiếp nhận thần kinh, ù tai và rối loạn tiền đình. Phẫu thuật mở xương bàn đạp, kể cả đặt implant thường giải quyết tốt các triệu chứng trên. Trợ thính kinh điển hoặc trợ thính qua đường xương cũng có thể cho kết quả tốt.
Bệnh Ménière-sũng nước nội dịch: Bệnh Ménière đặc trưng bởi áp lực dịch tăng cao bất thường ở ốc tai, tại Mỹ chiếm tỉ lệ 1% dân số (Costa: 2002). Thuốc điều trị bao gồm meclizine, thuốc kháng nôn, lợi tiểu cùng với chế độ ăn giảm muối. Nếu không đáp ứng với meclizine, diazepam có thể được thay thế để giảm triệu chứng các cơn chóng mặt cấp. Can thiệp phẫu thuật bao gồm mở túi nội dịch, cắt bỏ tiền đình, cắt thần kinh tiền đình và chích corticoides hoặc gentamicin được chọn lựa đối với những trường hợp nặng.
Bệnh lý miễn dịch tai trong: Chiếm 0,1% tại Mỹ (Hain: 2004), triệu chứng gồm điếc đột ngột một tai, sau đó có diễn tiến sang tai đối diện. Triệu chứng đầy tai, chóng mặt, ù tai (tiếng chuông, tiếng huýt gió, tiếng sóng vỗ). Bệnh lý này đáp ứng tốt với liệu pháp corticoides đường uống ngay từ đầu.
Bất thường hệ thính giác: U thần kinh VIII hoặc cholesteatoma đều có thể gây ù tai. U thần kinh VIII là một u lành tính phát sinh từ nhánh tiền đình thần kinh VIII, triệu chứng bao gồm nghe kém một bên, ù tai và rối loạn tiền đình. Phẫu thuật cắt bỏ thần kinh hoặc xạ trị u có thể giải quyết tốt những triệu chứng này đặc biệt khi u mới phát triển có đường kính còn nhỏ. Cholesteatoma là khối u tế bào biểu mô lành tính phát triển ở hòm nhĩ, theo thời gian cholesteatoma có thể xâm lấn, phá hủy chuỗi xương con. Nghe kém, ù tai, chóng mặt và liệt cơ mặt cùng bên do cholesteatoma phát triển. Phát hiện và phẫu thuật sớm có thể giải quyết tốt các triệu chứng trên.
Tăng huyết áp-huyết áp thấp: Tăng huyết áp thường gây ù tai hơn so với huyết áp thấp, điều chỉnh và duy trì huyết áp trong giới hạn cho phép có thể làm giảm hoặc làm mất hẳn triệu chứng ù tai.
Rối loạn biến dưỡng: Các bệnh lý biến dưỡng như đái tháo đường, cường giáp hoặc suy giáp có thể gây ù tai. Kiểm soát tốt các bệnh lý này giúp làm giảm hoặc hết hẳn ù tai.

Tai là một bộ phận phức tạp và có rất nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng ù tai
Điều trị khác
Điều trị bằng âm trắng: Là phương pháp rất quan trọng trong kiểm soát ù tai, điều trị bằng âm trắng được định nghĩa là dùng một âm đưa vào tai để làm giảm âm ù, đây không phải là một quan điểm điều trị mới. Âm ù sinh lý: là âm tự phát của tai trong nhưng bị che lấp bởi âm môi trường có cường độ > 35 dB SPL và là cường độ đủ để che lấp âm ù sinh lý (< ngưỡng nghe). Rõ ràng không có phương pháp điều trị nào có khả năng loại trừ ù tai, phương pháp hiệu quả nhất chỉ có khả năng khi cường độ âm ù < ngưỡng nghe.
Một trong những mục tiêu của điều trị bằng âm thanh là gia tăng mức âm nền tức làm giảm tỉ lệ âm ù trên âm nền, lưu ý mức âm ù không thay đổi, gia tăng âm nền giúp ít chú ý đến âm ù, hiện tượng này có thể hiểu như ánh sáng đèn cầy trong bóng đêm dù nhỏ nhưng vẫn gây sự chú ý nhưng dưới ánh sáng của nhiều ngọn đuốc, ánh sáng đèn cầy được xem là không đáng kể.
Trợ thính: Trợ thính thường cải thiện âm ù ở người bệnh nghe kém, người bệnh thường than phiền ù tai gây khó khăn trong giao tiếp nhưng thực ra điều này chủ yếu do nghe kém. Rất dễ hiểu do nghe kém thường có diễn tiến chậm, ngược lại ù tai là một âm khó chịu và đôi khi khởi phát đột ngột, vì vậy người bệnh quan tâm đến ù tai nhiều hơn đối với nghe kém.
Các thiết bị cải thiện sức nghe khác: Bất kỳ thiết bị hoặc phương pháp nào bao gồm cấy ốc tai, cấy thân não, khuếch đại tai giữa hoặc sử dụng prostheses có thể làm giảm ù tai đều cần được thử nghiệm để đạt được kết quả mong muốn.
Kiểm soát và thay đổi lối sống: Mục tiêu kiểm soát lối sống nhằm làm giảm mức ù tai cho đến khi không còn các phản ứng tiêu cực trong cuộc sống. Thay đổi lối sống phù hợp có thể giúp cho quá trình này gặp nhiều thuận lợi hơn. Tyler (2001) cho rằng: điểm quan trọng là tạo niềm tin cho bệnh nhân, mặc dù việc điều trị cho hầu hết các trường hợp ù tai mạn tính là không thể được, tuy nhiên có nhiều phương pháp giúp giảm ù tai một cách hiệu quả.

Điều trị Ù tai tại Khoa Tai – Mũi – Họng Bệnh viện 199
Kinh nghiệm cho thấy sự tuân thủ các hướng dẫn theo những trình tự như được trình bày trên đã giúp ích rất nhiều cho người bệnh trong việc cải thiện triệu chứng ù tai. Chính người bệnh mới có thể tự giúp mình cải thiện bệnh lý khi thực hiện một cách nghiêm túc công thức điều trị đã được đề ra, thầy thuốc có vai trò trong việc hướng dẫn và khuyến khích người bệnh áp dụng và thực hiện triệt để phương án điều trị.
BSCKI Lê Văn Điệp – P. Trưởng khoa
Tai – Mũi – Họng Bệnh viện 199 – Bộ Công an