Ứng dụng của CT Brain Perfusion đánh giá tưới máu não trong đột quỵ

I/ Đột quỵ và sự nguy hiểm của đột quỵ
Đột quỵ( hay tai biến mạch máu não) là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư, với tỷ lệ tử vong và tàn phế cao (cứ 3 phút có một người tử vong vì đột quỵ, thống kê tại Mỹ). Đột quỵ có thể xảy ra do 2 nguyên nhân: do nhồi máu (khoảng 80% trường hợp), làm ngừng trệ dòng máu lên nuôi não hoặc xuất huyết não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài vào mô não phá hủy và chép ép nhu mô.
II/ Chẩn đoán đột quỵ “TIME IS BRAIN”
a. Triệu chứng lâm sàng
fast
Dấu hiệu báo hiệu xảy ra đột quỵ F.A.S.T: Lệch méo mặt, yếu liệt chi, nói khó, cần gọi cấp cứu nhanh nhất
b. Chẩn đoán hình ảnh
protocol đột quỵ
Protocol hình ảnh học đột quỵ
Comprehensive Imaging of Ischemic Stroke with Multisection CT, RadioGraphics, Bernd F. Tomandl, Ernst Klotz, Rene Handschu, Brigitte Stemper, Frank Reinhardt, Walter J. Huk, K.E. Eberhardt, Suzanne Fateh-Moghadam
Hiện nay, tại hầu hết các trung tâm đột quỵ, trình tự chẩn đoán bao gồm: NCCT (CT không thuốc), CTA (CT mạch não), CTP (CT tưới máu não). Chụp CT sọ não không thuốc nhằm loại trừ chảy máu não, chẩn đoán nhồi máu não cấp (dựa vào các dấu hiệu sớm như: mất phân biệt chất trắng-xám, giảm đậm độ hạch nền, mất các nếp cuộn não, mất dải ruy băng thùy đảo, tăng đậm độ động mạch não giữa hoặc động mạch thân nền, tính điểm ASPECTS). CTA mạch máu não là tiêu chuẩn để chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh. CT perfusion được thực hiện nhằm đánh giá sự tưới máu nhu mô.
CT tưới máu não CT Brain Perfusion
CT tưới máu não (CT Brain Perfusion) đang dần được triển khai tại các trung tâm y tế, là một phần trong quy trình quản lí đột quỵ cùng với CT không thuốc và CTA mạch máu não. Vai trò của CTP nhằm phát hiện nhu mô não còn có thể phục hồi (vùng tranh tối tranh sáng) và nhu mô não không thể phục hồi (vùng mô đã chết) dựa vào phần mềm phân tích số liệu (MTT, CBF, CBV), bảng đồ màu, biểu đồ so sánh sự tưới máu với vùng lành, giúp bác sĩ điều trị quyết định can thiệp kịp thời (lấy huyết khối hay dùng tiêu sợi huyết). Mặc dù chụp MRI (xung DWI) có độ nhạy cao hơn nhưng nhược điểm là cần thời gian lâu hơn, trong khi đó đối với nhu mô não bị thiếu máu, thời gian xử trí nhanh là vô cùng cần thiết (“TIME IS BRAIN”).
vùng tổn thương
Vùng tổn thương = Lõi (không hồi phục)+ vùng nguy cơ (có khả năng hồi phục)
4
Tưới máu giảm=> nhu mô não thiếu máu (vùng có thể hồi phục, Penumbra)=> nhu mô não đã chết( vùng nhồi máu)
CTA
CTA, CTP, NCCT
7
Phương pháp khảo sát tưới máu não dựa vào ứng dụng phần mềm CT Brain Perfusion của PHILIPS BV 199 đang thực hiện trên máy CT 256 dãy.
8
9
10
Bản đồ tưới máu được tính toán dựa vào các thông số chính: lưu lượng máu não (CBF), thể tích máu não (CBV), thời gian vận chuyển trung bình (MTT), thời gian nồng độ thuốc qua mô đạt đỉnh(TTP). Sử dụng công cụ ROI vùng nghi ngờ, so sánh với cùng vị trí bên bán cầu não đối diện, biểu đồ cùng các chỉ số đánh giá sự khác biệt giữa mô lành và mô bệnh.
11
Màu đỏ biểu thị vùng nhồi máu, màu xanh là vùng tranh tối tranh sáng
tầm soát
ct 256
CT BRAIN PERFUSION tại bệnh viện 199
BS. Ngô Nữ Phương Thảo, Khoa Chẩn đoán Hình ảnh - Bệnh viện 199